VĂN SỚ CÚNG GIA TIÊN

Hoàng Công Danh

Tuổi thơ tôi lớn lên ở làng, những gì tôi biết về văn hoá dân tộc âu cũng nhờ ông nội truyền cho cả. Tôi coi đó là người thầy tuyệt vời nhất của đời mình. Người đã dạy cho tôi  những tinh hoa trong vốn sống và cách đối nhân xử thế. Ông tôi có cách dạy con cháu hay lắm! Dạy mà không giáo điều, dạy mà như kiểu nhờ vả ai làm một cái chi đó. Giờ đi xa tôi mới thấy đó là một cách giáo dục tuyệt vời “học đi đôi với hành”.

Ông nội tôi là một bậc đức trọng ở làng, từ việc trong nhà đến việc họ tộc làng nước đều lo lắng chu tất. Ông là người giỏi về văn sớ mặc dù không được học hành chi nhiều. Văn sớ cúng làng, văn sớ chạp mả, văn sớ đám tang, đến các tờ cấp cho người đã khuất…ông đều thạo. Ngày còn nhỏ, tôi thấy ông có một quyển sổ nhỏ bìa dày, giấy kẻ ô vuông kiểu Liên Xô. Trong những trang giấy cũ bạc màu ấy là các dòng chữ Quốc ngữ nhưng viết theo kiểu Hán. Tức trình bày dọc từ trên xuống và bên phải sang bên trái. Tôi đọc những dòng chữ đó và chả hiểu gì cả, nhưng vẫn thấy thích cuốn sổ vì thấy ông hay đặt ở trước bàn kệ giữa nhà nên ngày nào cũng lén mở ra xem.

Tôi đến trường học được mấy năm, sau khi đã thành thạo chữ nghĩa, đọc tốt viết được, ông cho tôi cùng viết văn sớ. Cái chuyện này cũng chả có gì lạ, ngày nhỏ tôi vẫn theo ông nội như hình với bóng nên việc gì ông làm cũng có mặt thằng cháu nhỏ. Nhớ cái dáng ông ngồi viết sớ mà thương lắm! Ông ít khi ngồi trên bàn vì trong nhà hơi tối. Vậy là ông vác cái ghế nhỏ ra ngoài hiên, ngồi mà hai chân như thể quì rồi viết. Cái dáng vẻ thành kính như một ông đồ cho chữ vậy! Tôi cũng quì theo một bên, chống hai tay lên cằm mà xem ông viết. Chữ ông nội tôi đẹp, viết xiên nghiêng như lúa tháng ba gặp thoáng gió xuân bỗng xuôi chiều. Đều đặn típ tắp, bàn tay ông cẩn trọng thảo từng con chữ.

Giấy viết sớ là loại giấy bổi màu vàng mỏng. Thứ giấy này người ta thường dùng để quấn quanh các ốp hưong. Giấy được xếp thành các bản nhỏ cỡ bàn tay, gấp chồng như cách xếp cánh quạt. Rồi từ mỗi bản đó, lại đem gấp nhẹ thành các hàng dọc nhỏ cỡ ngón tay cái để viết vừa một chữ. Nhà tôi luôn luôn có sẵn giấy đã xếp, ông kẹp vào cuốn sổ văn sớ để khi nào có việc là lấy ra viết liền. Không chỉ là sớ cúng trong nhà trong họ, ông tôi còn viết cho cả những người trong làng, ai đến nhờ ông cũng viết không nề hà. Nhiều khi tôi thấy ông cứ cùi cụi cả ngày viết sớ. Nhất là những dịp năm hết tết đến thì ông khom lưng cả ngày mà viết.

Tôi đứng cạnh bên lật sổ cho ông, nhiều chữ không rõ thì ông nhủ tôi đọc hộ. Ấy là ông tôi giả vờ thế chứ thực ra ông đã thuộc hết cuốn sổ đó rồi. Sau này tôi mới biết đó là cách ông hướng tôi quan tâm với văn sớ cúng tiên tổ. Và quyển sổ kia chắc cũng có ý định truyền lại cho đời sau mà thôi.

Văn sớ thường bắt đầu thế này

“Duy

Việt Nam quốc, Quảng Trị tỉnh, Triệu Phong huyện, Triệu Thuận xã..”

Tôi không hiểu chữ “Duy” lắm nhưng có lẽ đó là một từ dùng để xưng danh, để chứng tỏ sự có mặt của những cụm từ tên nước, tỉnh, huyện, làng xã đi sau. Kiểu như khi mới ra đời thì Thái Tử Tất Đạt Đa tay chỉ đất tay chọc trời mà bảo rằng “thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”, thì chữ “Duy” cũng nằm trong trường nghĩa đó. Các danh xưng phía sau được sắp xếp theo cấp hành chính từ to đến nhỏ. Mà là phải viết đảo, tên riêng lên trước rồi mới xưng cấp. Vì trong văn sớ ít khi dùng các dấu chấm phẩy, lại viết dọc từ trên xuống nên có lần tôi đọc nhầm “tỉnh Triệu Phong, huyện Triệu Thuận…”.

Sau khi xưng địa danh quán trú xong là đến ngày tháng. Ông tôi nhủ phải viết qua hàng khác.

“Tuế thứ (tên năm) niên, (số tháng) nguyệt, (số ngày) nhật…”

Tên năm thì lấy theo âm lịch, tức gồm có can và chi. Số tháng số ngày phiên qua tiếng Hán-Việt cho đúng với văn phong thờ cúng. Ví dụ ngày 28 tháng 11 năm Canh Thìn (2000) thì viết là

“Tuế thứ, Canh Thìn niên, thập nhất nguyệt, nhị thập bát nhật…”

Nếu số tháng và số ngày bé hơn 10 thì phải thêm sữ “sơ” ở trước. Chữ “sơ” trong trường hợp này tương ứng với số 0. Vì như ngày mồng 7 tháng giêng thì viết là

“…sơ nhất nguyệt, sơ thất nhật…”

Tiếp đó là một bài văn tự khá dài bằng tiếng Hán – Việt kể về công trạng, lai lịch thuỷ hoả đất trời. Trong đó còn có các câu “thần chú” nhằm mục đích gọi hồn cho người đã mất nghe được sớ. Trong “Văn tế thập loại chúng sinh” của Nguyễn Du cũng có những câu ‘chú’ như thế! Nên chi nhiều người hay chơi ma thuật ‘cầu cơ’ đồng bóng sử dụng một đoạn trong bài văn của cụ Nguyễn, cùng với một đoạn kinh nhà Phật mà làm nên bài ‘kinh cầu cơ’.

Phần cuối cùng của tờ sớ là tên của người đã mất, viết bằng chữ Quốc ngữ. Riêng có loại văn cúng thì phải thêm “hiển khảo” (người đàn ông), “hiển tỷ” (đàn bà), “hiển tổ khảo”, “cao tằng tổ khảo”…. Nhân cái chuyện chữ “khảo” và “tỷ” mà có mẫu chuyện vui thế này! Một ông nọ biết có mỗi một chữ “khảo” trong tiếng Hán. Khi đi tìm mộ cho nhà mình thì gặp hai cái bia, nhưng giờ không biết cái nào của ông cái nào của bà bởi hai tấm bia dựng từ xưa nên toàn chữ Hán là Hán. Người đó lần xem cả hai tấm bia và phát hiện chỉ có một tấm bia có chữ “khảo”. Và đó chắc chắn là phần mộ của đàn ông. Thật là “một chữ cũng đáng để học” – ông cha ta dạy chí phải.

Kết thúc lá sớ bằng việc liệt kê một số vật phẩm dâng cúng, tất nhiên là chỉ lược sơ thôi, còn chi tiết thì đã ghi ở ‘Tờ Cấp’. Thường có một khuôn mẫu chung để kết sớ như thế này

“Thứ phẩm chi nghi, hương – hoa – đăng – trà – phù – tửu chước lễ chi nghi

Cẩn chiêu cáo vu”

Riêng tờ cấp thì được phép viết ngang trên giấy trắng. Liệt kê đây đủ các thứ đốt cho người ở bên kia. Người nhà quê thường mua về các loại áo giấy, giầy dép mũ mão bằng giấy, đặt trên bàn thờ, cúng xong thì đem ra phát hoả thành tro. Hàng mã cũng làm thật khéo tay, trông cái đôi giầy, mũ mão là y như hàng thật. Lại còn đốt tiền giả với mấy chữ “Ngân hàng địa phủ”, có cả tiền ta và tiền đôla. Chuyện đốt vàng mã âu cũng để thể hiện lòng thành kính tưởng nhớ. Nhưng nếu lợi dụng nó quá thì thành ra mê tín và phung phí. Nhất là trong thời đại ngày nay, người ta còn mua cả bạc triệu vàng mã về đốt. Cứ y như thời này hàng mã phát đạt nhất vậy! Có một vị sư cho ý kiến thế này mà theo tôi là hay. Vị sư bảo nếu cứ cung cấp áo quần tiền của cho người dưới địa ngục thì họ cảm thấy đầy đủ mà ở mãi dưới đó, không chịu tu tập để được thăng lên thiên đường. Vậy là thành ra làm hỏng!

Đọc sớ cũng là một nghệ thuật. Thật vậy, giọng đọc đòi hỏi phải ấm cúng và thành khẩn. “Nói ngọt lọt tới tận xương” – giọng ai đọc truyền cảm thì khiến cho các quan ở âm phủ dễ xuôi lòng mà độ cho người thân của mình. Chính điều này mà sinh ra những ông thầy cúng (gọi là thầy phù thuỷ).

Có loại sớ cần đọc to, có loại sớ đọc thầm và có loại sớ không cần phải đọc. Như ‘tờ cấp’ chẳng hạn thì chỉ đặt lên thế chứ không cáo. Sau này ông tôi có tìm hiểu thêm loại sớ nhà chùa. Sớ này có in và bán sẵn, viết song chữ văn tự chữ Hán và tiếng phiên Hán-Việt. Chừa sẵn những chỗ trống để viết thêm vào mà thôi.

Ông tôi cũng bỏ công tìm tòi nghiên cứu. Sau này ông có mua được ‘tập văn cúng gia tiên’ của nhà xuất bản văn hoá dân tộc. Ông tham khảo văn tế của nhiều nơi trên đất nước rồi sau đó hiệu đính lại cuốn sổ của mình.

Đến nay cuốn sổ năm xưa đã được ông tôi thay mới, chữ nghĩa rõ ràng hơn. Cuốn sổ được chia ra nhiều phần gồm: văn làng, văn họ, văn cúng gia tiên, văn tảo mộ, văn đám tang, văn khánh thành… Nói chung là lễ nào có loại văn nấy. Tôi lém lỉnh lôi ra đọc xem cũng thấy thích. Khi đã lớn hơn, không những qùy bên xem ông viết mà ông còn cho tôi viết sớ nữa. Nhớ cái lần đầu tiên cầm ngòi bút, kê tay lên tờ giấy bổi vàng mà lòng hồi hộp, sợ viết sớ sai thì thần linh bắt tội. Ông tôi chỉ trỏ từng chỗ, giải nghĩa từng chữ và bảo cho cách viết. Những lần đó ông tôi giả vờ mắt kém, cốt là để tôi làm quen với công việc ý nghĩa này.

Dần dà, tôi cũng đã quen thuộc tất cả các loại sớ. Biết rõ loại văn nào dùng vào dịp nào, biết cách xưng hô cấp bậc người khuất, biết tên gọi những “thứ phẩm chi nghi”. Viết sớ cũng như viết gia phả vậy, phải nhập tâm và cẩn thận, suy nghĩ lung tung là viết sai liền. Mà tờ sớ khác với tờ giấy vở học, sai một chữ tất phải huỷ đi viết lại cả tờ.

Làng xã vẫn còn, văn hoá tập tục cổ truyền sẽ không bao giờ mất, và những dòng văn sớ tất nhiên mãi được bảo lưu. Trong dòng chảy thời đại hôm nay có thể điều đó không được coi trọng cho lắm, nhưng tôi tin văn sớ là một nét đẹp văn hoá người Việt mà qua đó thể hiện chữ Hiếu của người đời sau.

Minsk 22.3.2008

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: